Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2015

LỄ VU LAN NGUYÊN THỦY

Nhân mùa Vu Lan xin post lại loạt bài đã đăng trên Giác ngộ vài năm trước về Lễ Vu Lan. Lý do là vì mình đọc được rất nhiều bài viết đảo điên thứ tự về lễ Vu lan, kể cả của các "học giả" . Thay vì phải lần tìm về nguồn cội của một nghi lễ có xuất xứ từ chính Đức Phật (do chính Phật Thích-ca lập nên, nghĩa là trên 2500 năm), tại địa phương của nó, các "học giả" nhà ta lại lộn đầu xuống đất, dịch ngược từ VU-LAN của tiếng Trung Quốc sang tiếng Sanskrit thành ULLAMBALA, khiên cưỡng theo cái nghĩa TỘI TREO NGƯỢC - một trong những hình phạt ở địa ngục. Đăng bài này lại để nhắc các "học giả" rằng Đạo Phật xuất xứ từ Ấn Độ, không phải Trung Quốc và dịch ngược danh từ riêng từ tiếng Trung quốc về tiếng Phạn sẽ đi sai đường. Hãy trả lại Cesar cái gì của Cesar!



PHN 1: KHẢO SÁT VỀ NGUỒN GỐC LỄ VU-LAN Ở KATHMANDU, NEPAL

*********


Vu Lan "Bồn"


Chúng tôi đoan chắc rằng GŪLA chính là từ nguyên của Vu-lan khi phiên âm sang tiếng Trung Quốc. Cũng như Vu-lan bồn là để chỉ cái chậu chứa năm thứ vật thực cúng dường chư Phật hoặc chư tăng, ni trong ngày Pancha Dana; nghĩa bóng là Lễ Cúng Dường mùa Vu Lan (không phải dịch ngược Vu lan từ tiếng Trung sang tiếng Phạn thành ullambala - tội treo ngược rồi áp đặt nghĩa Lễ Đảo Huyền cho Vu lan như một số "học giả" vẫn làm vào kỳ Vu lan hàng năm - NP).




Một số “bồn” dùng trong mùa Vu-lan của người Newari: GULPA, và GULU dùng đựng các vật thực cúng dường Chư Phật (bình bát bằng đồng). GULPA và GULU chính là từ nguyên của Vu-lan Bồn.






  Trong quá trình 5 năm cư trú tại Nepal, chúng tôi đã có dịp may để khảo sát những phong tục cổ truyền của dân chúng địa phương tại đây. Một trong những lễ trọng trong năm, hoặc có thể nói là quan trọng nhất, của Phật tử ở đây là Đại lễ Vu-lan. Lễ Vu-lan của Nepal có gì khác với lễ Vu-lan tại Trung Quốc và Việt Nam? Nó được thực hiện như thế nào? Nguồn gốc của lễ ấy?
    Trước tiên chúng ta hãy nhìn lại nguồn gốc của lễ Vu-lan ở Trung quốc.

·                        Nguồn gốc Lễ Vu-lan tại  Trung Quốc 

Phần này chúng tôi không đi sâu vào chi tiết về từ nguyên, lịch sử hoặc  cách thức thực hành nghi lễ. Chỉ điểm qua một số nét chính để có cơ sở so sánh với Lễ Vu-lan tại Nepal.
Có lẽ bị ảnh hưởng từ Phật giáo Trung hoa, Phật giáo của Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên cũng tổ chức lễ Vu-lan gần giống như của Trung Hoa. Nói chung, tất cả các nước trên đây tổ chức lễ Vu-lan dựa theo bài kinh “Phật Thuyết Kinh Vu-lan” do Ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn (265-316 AD). Kinh này nói về sự tích Phật dạy Ngài Mục-Kiền-Liên cứu mẹ bị đọa ở địa ngục. Và tất cả đều thống nhất ở một điểm theo truyền thống Phật giáo: ngày rằm tháng bảy (theo âm lịch Trung Hoa) là ngày Chư Phật hoan hỷ, oai lực chư tăng được tăng trưởng sau ba tháng an cư, và là ngày tự tứ do đó chư tăng hội họp đầy đủ.
 …Rằm tháng bảy là ngày tự tứ - Mười phương Tăng đều dự lễ này - Phải toan sắm sửa chớ chầy - Thức ăn trăm món, trái cây năm màu - Lại phải sắm gường nằm nệm lót - Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang, dầu - Món ăn tinh sạch báu mầu - Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng - Chư Ðại Ðức mười phương thọ thực - Trong bảy đời sẽ đặng siêu thăng - Lại thêm cha mẹ hiện tiền - Ðặng nhờ phước đức tiêu khiên ách nàn - Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ - Dầu ở đâu cũng tựu hội về - Như người thiền định sơn khê - Tránh điều phiền não chăm về thiền na - Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả - Công tu hành nguyện thỏa vô sanh - Hoặc người thọ hạ kinh hành - Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tong - Hoặc người đặng lục thông tấn phát - Và những hàng Duyên giác Thinh văn - Hoặc chư Bồ tát mười phương - Hiện hình làm Sãi ở gần chúng sanh - Ðều trì giới rất thanh rất tịnh - Ðạo đức dày chánh định chơn tâm - Tất cả các bậc Thánh phàm - Ðồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa…”  (Phật Thuyết Kinh Vu-lan)
Thật ra, tập tục cúng bái tổ tiên và tẩy trừ ma quỷ vào dịp rằm tháng bảy tại Trung Quốc đã xuất hiện từ rất lâu đời (ít nhất là từ đời Hán). Còn Tết Trung nguyên của Đạo giáo thì cũng có trước thế kỷ thứ VII-AD. Khi Phật giáo lan truyền đến Trung Quốc, có lẽ trùng hợp về thời điểm  và quan niệm báo hiếu nên người Trung Quốc đã hấp thụ lễ Vu-lan của Phật giáo và biến lễ Vu-lan tại Trung Quốc trở thành một lễ dân gian mang tính tổng hòa của: tập tục thờ cúng tổ tiên + Tết Trung nguyên của Đạo giáo + lễ báo hiếu của Phật giáo.
Nội dung Phật giáo có thể thấy qua việc thiết lễ cúng dường chư tăng và cầu nguyện cho người đã khuất. Còn những tập tục như cúng cô hồn, đốt vàng mã là những tập tục còn sót lại của tín ngưỡng dân gian Trung Hoa. Sau này Mật tông Trung Hoa còn soạn ra thêm lễ cúng thí ngạ quỷ. Từ đó có thể thấy Lễ Vu-lan ở Trung Quốc và các nước ảnh hưởng bởi Phật giáo Trung Quốc không còn thuần khiết và bị pha trộn bởi những yếu tố văn hoá địa phương.
Việc tìm hiểu nguồn gốc lễ Vu-lan tốt nhất nên khảo sát tại quê hương bản quán của nó tức địa bàn Bắc Ấn. Tuy nhiên Phật giáo tại vùng Bắc Ấn đã tàn lụi hơn 1000 năm trước, những lễ tiết Phật giáo cũng đã nhạt nhòa theo thời gian.
May mắn thay cho chúng tôi, một địa điểm tại Nepal vẫn còn bảo lưu được lễ Vu-lan nguyên thủy: Thung Lũng Kathmandu.


·                        GŪLA- tháng lễ trọng của cộng đồng Newari

    GŪLA là một lễ hội đặc biệt của Nepal và chỉ duy nhất có ở Thung Lũng Kathmandu (Kathmandu Valley) – đây chính là nước Nepal cổ đại với tên gọi Nepal-Mandala vào thời Asoka Đại Đế.
Xin nói qua một chút về lịch sử của Kathmandu Valley.
Về địa lý, Kathmandu Valley nằm cách Kapilavastu của Vương quốc Sakya 400km. Thung lũng này nằm trên độ cao hơn 2000m trên mực nước biển và được bao bọc bởi những ngọn núi cao. Đặc điểm này đã làm nên cái tên cổ đại nổi tiếng của thung lũng vì những ngọn núi bao bọc xung quanh giống như những cánh hoa sen trong một đồ hình Mandala. Theo huyền sử, Kathmandu chính là một cái hồ lớn vào thời tiền sử (các khảo cứu địa chất mới nhất tại đây đã chứng minh điều này). Những sườn núi xung quanh hồ lớn ấy là nơi cư trú của sắc dân Naga – nhóm chủng tộc Mongoloid của Hymalaya mà địa bàn cư trú kéo dài đến tận Trường Sơn của Việt Nam. Cũng theo huyền sử, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đã tìm đến đây để chiêm bái Swayambhu (Ánh-Sáng-Tự -Sinh từ một hoa sen do Đức Phật Bipaswi gieo trồng). Ngài Văn Thù đã dùng báu kiếm của mình cắt một lối thoát nước và biến cái hồ ấy trở thành Thung Lũng Kathmandu, còn hòn đảo giữa hồ trở thành ngọn đồi Swayambhu ngày nay. Sắc dân Naga sống gần đấy đã quy tụ lại dưới sự lãnh đạo của một đệ tử của Ngài Văn Thù, sau này được ghi nhận trong sách sử cổ đại của Ấn Độ là Kirat hay Kiran. Bộ tộc Kiran đã từng tham chiến và giúp đỡ có hiệu quả trong cuộc chiến tranh của liên minh các vương quốc Ấn Độ chống đạo quân viễn chinh của Alexander. Sau này trong công cuộc thống nhất Ấn Độ của Chandragupta (ông nội của Asoka Đại Đế), họ trở thành một đồng minh tin cậy của ông trong việc kiến tạo Đế quốc Maurya. Chính Asoka, sau khi hành hương chiêm bái tất cả các thánh tích Phật giáo của Ấn Độ đã đi đến Nepal-Mandala vào năm 250 trước Công Nguyên. Ở bốn góc của thành phố cổ Patan (trung tâm quyền lực của Nepal cổ đại) còn tồn tại bốn bảo tháp lớn được truyền tụng rằng chúng đã được dựng nên bởi chính Asoka khi ông đến thăm Nepal-Mandala. Một huyền sử nữa là Asoka đã gả con gái của ông là công chúa Charumati cho một hoàng thân trong triều đình Kiran.

Bảo tháp Swayambhu mùa Gula
nhìn từ cửa sổ phòng tác giả


Về truyền thống Phật giáo, có lẽ Phật giáo đã du nhập vào Nepal-Mandala từ thời Đức Phật. Huyền sử cũng nói rằng chính Đức Phật Thích Ca đã viếng thăm một vương tử Sakya tại Nepal-Mandala trước khi Ngài nhập Niết bàn, và sau này Ngài A Nan cũng nhiều lần đến Nepal-Mandala thăm viếng và truyền đạo cho các quý tộc Sakya lưu lạc đến đây sau khi vương quốc Sakya ở Kapilavastu bị tận diệt. Nagarjuna (Long Thọ), Buddhaghosa (Phật âm), Atisa đều đã đến thăm viếng Thung lũng Kathmandu và Swayambhu. Vì thế Phật giáo tại Kathmandu Valley có một truyền thống sâu xa và vững chắc, kéo dài không ngưng nghỉ suốt từ thời Đức Phật còn tại thế cho đến nay. Cho đến cuối thế kỷ 19, những nhà khoa học Anh đã ghi nhận rằng có đến 80% dân số của Kathmandu Valley theo đạo Phật. Chỉ từ sau khi có luật chống lại Phật giáo vào thời Rana những năm 1910-1930 và những hành động quá khích của chính quyền để thiết lập một vương quốc thuần Hindu thì số lượng người theo đạo Phật bị giảm sút nghiêm trọng. Chỉ còn trên dưới 20% vào thời điểm hiện nay. Mặc dù vậy, hầu hết những gia đình đã “cải giáo” sang Hindu đều giữ những tập tục Phật giáo của mình. Và điều quan trọng hơn, cộng đồng “thuần khiết Phật giáo” Sakya vẫn giữ nguồn mạch Phật giáo chảy mãi tại Kathmandu Valley.




Phật tử Tây Phương cũng về chiêm bái Swayambhu mùa Gula


Đối với Phật tử của Kathmandu Valley, sự kiện quan trọng nhất trong năm là thực hiện một tháng lễ trọng GŪLA.

GŪLA là tên của tháng thứ 10 trong lịch Newari (Nepal Era Calendar) - một nguyệt lịch được sử dụng từ năm 880 AD tại Kathmandu Valley. GŪLA là một từ Newari cổ (Newari là ngôn ngữ của cư dân bản địa ở Thung Lũng Kathmandu có nguồn gốc từ ngôn ngữ Bhrami được sử dụng rộng rãi vào thời Asoka). GŪLA cấu thành từ “gun” -điềm lành và “la”- một khoảng thời gian (trong trường hợp này là một tháng).  Chính vì vậy, GŪLA có nghĩa “tháng tốt lành”. Theo lịch Ấn Độ, GŪLA bắt đầu từ ngày thứ nhất của tuần trăng Srawan và chấm dứt vào ngày đầu tiên của tháng Bhada (Tám-Chín). Theo dương lịch, tháng GŪLA thường rơi vào khoảng giữa tháng Tám đến giữa tháng Chín, và hoàn toàn trùng khớp với tháng Bảy âm lịch của Việt Nam và Trung Quốc.
Vào tháng GŪLA, sau khi lúa đã cấy xong, Phật tử Newari bước vào tháng lễ quan trọng nhất trong năm của họ. Dễ quan sát hơn cả là việc họ chiêm bái ngọn đồi Swayambhu-Thánh địa Phật giáo quan trọng nhất của Thung Lũng Kathmandu.



Phật tử Newar kinh hành vòng quanh bảo tháp Swayambhu

Suốt cả tháng GŪLA, Phật tử Newari cầu nguyện, chay tịnh, thiền quán và chơi âm nhạc tôn giáo. Trong tháng GŪLA, họ không ăn thịt gà và trứng. Từ rất sớm (4-5 giờ sáng) họ đi bộ (đa số đi chân trần) thành từng nhóm đến Swayambhu cùng với những ban nhạc cổ truyền dẫn đầu mỗi nhóm để thực hiện những buổi lễ đặc biệt bất kể thời tiết thế nào. Nhạc cụ chính của bất cứ ban nhạc nào là Dhah (trống 3 tấc, một nhạc cụ cổ truyền tồn tại hơn 2,000 năm nay ở Thung lũng Kathmandu, các nhà khảo cổ đã tìm thấy chứng tích của nó từ thời Kiran- Asoka Đại Đế). Những chàng trai, cô gái Newar đeo những cái trống cổ truyển này trên cổ và vỗ bằng tay trái còn tay phải gõ bằng một cái dùi đặc biệt đầu cuốn tròn như dấu “?”. Nhóm nhạc công tài tử này còn có những người thổi kèn và chơi những cái chập chõa nhỏ như chén ăn cơm.



Nhạc cổ truyền được các thế hệ chơi trong mùa Vu-lan



Vào tháng GŪLA,  Swayambhu đông nghịt người chiêm bái đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần. Không chỉ Phật tử mà cả người theo đạo Hindu (hoặc Phật giáo cải sang Hindu) cũng đi đến Swayambhu để tỏ lòng kính ngưỡng Đức Phật. Họ trèo lên 365 bậc đá của ngọn đồi, vượt qua những khu rừng thưa, những tượng đá của các linh vật, những pho tượng Phật cổ bằng đá to ngoại cỡ, và những con khỉ ngồi dọc theo đường đi để chờ thức ăn… để lên tới đỉnh đồi. Người người chen chúc nhau trong không gian chật hẹp và càng chật hẹp hơn bởi đèn dầu, cờ phướn, tượng phật và tranh cuộn thanka trang hoàng các tự viện và bàn thờ, bởi mùi nhang trầm hoà quyện cùng tiếng chuông và tiếng lăn của những bánh xe cầu nguyện đặt vòng quanh bảo tháp. Đây đó, những nhóm tăng ni ngồi tụng thật lớn những bộ kinh Phật cho mọi người cùng nghe, trong khi những nhóm nhạc tài tử thì tụ tập bên cạnh những tháp đá và chơi những bản nhạc cổ truyền hoặc hát lời ngợi ca chư Phật. Theo truyền tụng, việc chiêm bái này trong tháng GŪLA đã được thực hiện ở Thung Lũng Kathmandu nhiều thế kỷ , có lẽ từ 2,500 năm trước. Nghi thức này lặp lại mỗi ngày trong suốt tháng GŪLA. Mỗi ngày tiếp theo, số lượng các nhóm nhạc và người cầu nguyện ngày càng đông khi những người ở xa xôi hơn cũng tề tựu về.
Tại Patan (thành phố cổ nhất của Thung Lũng Kathmandu, nơi được mệnh danh là Thành phố Phật giáo), trong khi mưa thoả cơn khát của đất đai và vạn vật, Phật tử nhắc nhở nhau nhớ lại những lời Phật dạy. Phật tử Newari ở đây thực hiện một tháng lễ trọng bằng cách tỏ lòng tôn kính Đức Phật, nhắc nhở nhau cố gắng thực hiện ngũ giới trong cuộc sống hàng ngày, tối thiểu là một tháng.   



Vaijracharya – giai cấp tư tế Phật giáo của người Newar - tụng kinh mùa Gula



Những nữ Phật tử tắm gội sạch sẽ và chỉ ăn một bữa mỗi ngày trong suốt tháng GŪLA. Mỗi ngày, trước khi nấu nướng thức ăn trong ngày, những người phụ nữ nắn những cái tháp nhỏ bằng đất sét (caitya) và cầu nguyện trước chúng với lòng tin rằng hành động đó sẽ tích lũy công đức cho họ và gia đình. Những cái tháp nhỏ đó được cầu nguyện và giữ cẩn thận cho đến ngày cuối cùng của tháng GŪLA. Vào ngày cuối cùng của tháng GŪLA, những người phụ nữ thực hiện một nghi lễ đặc biệt: mặc những bộ trang phục đẹp nhất mà họ có cùng với nữ trang đắt tiền họ bưng những cái tháp nhỏ trong một cái khay bạc hoặc đồng theo sau những nhóm nhạc cổ truyền đi tới một dòng sông gần nhà. Ở đây họ thực hiện nghi lễ cuối cùng trước các Caitya rồi đặt chúng xuống nước. Kết thúc mùa GŪLA, số caitya có thể lên đến hơn trăm ngàn cái.





Các caitya bằng đất sét được nắn bằng tay và cúng bái suốt mùa Vu-lan




Phật tử Newar tụng kinh tại Golden Temple – Patan



Vào ngày thứ tám tháng GŪLA, Phật tử ở Patan thực hiện lễ “Pancha Dana” - Lễ dâng cúng năm thứ vật thực (gạo lức, gạo trắng, đậu, lúa mì và muối).  Đó chính là lễ cúng dường cho các chư tăng ni theo nghi thức cổ truyền. Huyền thoại truyền rằng đó chính là ngày khi Siddhartha từ bỏ lối tu khổ hạnh để chọn con đường Trung Đạo và sau đó chứng ngộ thành Phật. Trong ngày Pancha Dana, các cửa hiệu và nhà cửa trang hoàng với hoa và các tranh tượng Phật. Phụ nữ ngồi trước cửa nhà với những cái bồn bằngđồng chứa đầy 5 thứ dâng cúng (nguồn gốc của Vu-lan bồn), và dâng mỗi lần đầy hai tay vào bình bát của các tăng ni đi ngang qua theo phong tục được chính Đức Phật thực hành hơn 2500 năm trước. Các tăng ni ban phước cho mỗi thí chủ bằng cách chạm vào trán của họ bằng những cuốn kinh Phật, cầu chúc cho họ nhận được phước duyên và sự bảo hộ của chư Phật. Khi trời chạng vạng tối, một nhà sư đi vòng quanh thành phố và lắc một cái chuông báo hiệu kết thúc ngày Pancha Dana, khi đó các tăng ni không nhận thêm lễ vật dâng cúng nữa. Sau đó, vào ngày thứ 28 của tháng GŪLA, Pancha Dana lại đươc tổ chức ở hai thành phố khác của Thung Lũng Kathmandu là Kathmandu và Bhaktapur.


Vào ngày Pancha Dhana, các sư, ni hoặc thành viên của họ Sakya, Vajracharya thực hành nghi thức khất thực theo truyền thống của Đức Phật. Phụ nữ của những gia đình Phật tử ngồi trước cửa nhà với một hoặc nhiều “bồn” chứa đầy gạo, muối, tiền xu, các loại đậu để cúng dường cho họ.


Hai Vajracharya đang đi khất thực


Một cửa tiệm ở khu trung tâm buôn bán sầm uất Ason trang hoàng đẹp đẽ với tượng Phật 
và đích thân bà chủ đứng cúng dường suốt cả ngày.



Một nữ Phật tử trong ngày Pancha Dhana, 
đến 3 giờ chiều thì hầu hết các vật thực cúng dường đã cạn.



Một bô lão Sakya trong trang phục cổ truyền 
đang nhận vật thực cúng dường từ Phật tử.




Bahi Doe Boyegu, sự trưng bày các tượng Phật trong sân chùa rơi vào ngày thứ 12, và có thể kéo dài vài ngày, tuỳ thuộc vào quyết định của cộng đồng Sakya của tự viện đó. Trong ngày này, những thánh tích và tượng cổ được trưng bày cho công chúng chiêm bái và cầu nguyện. Đó là những tượng gỗ tuổi đời vài thế kỷ, có tượng đã bị mối mọt làm hư hại. Đó là những bức tranh cuộn thanka, và những tấm thảm treo tường cổ thể hiện cuộc đời đức Phật hoặc các Thánh Tăng, đó còn là những hạt gạo ngoại cỡ được nói rằng đã được trồng ở Thung Lũng Kathmandu vào thời cổ đại. Mỗi ngày có đến hàng trăm người đến chiêm bái ở mỗi tự viện. Tại một ngôi chùa ở Thamel những cuốn kinh cổ hơn ngàn năm tuổi được viết bằng mực hoàng kim được trưng bày một lần duy nhất trong năm cũng vào dịp này.
Tượng Phật trưng bày tại Golden Temple

Kinh cổ được trưng bày mùa Gula

Vào ngày rằm, Phật tử tựu tập tại các Bảo tháp Asoka ở Patan để cầu nguyện.
Vào ngày thứ 17, diễn ra Mata-Ya , Lễ Đèn  (xin xem Phần 2). Tên đầy đủ của ngày lễ này là Mata Puja, với mata là đèn và puja là nghi lễ cúng bái Thần - Phật. Vào ngày ấy, mọi người bưng những cây đèn dầu đi không mệt mỏi vòng quanh khắp các đường lớn, hẻm nhỏ của Patan để cầu nguyện cho những người thân đã chết. Họ đi chân trần mặc những bộ đồ đẹp nhất và tụng đọc những bài ngợi ca Chư Phật, Đi đầu luôn luôn là những nhóm nhạc cổ truyền.
 Bắt đầu từ mờ sáng, những đoàn người kéo đi xuyên qua mê cung của các con đường nhỏ hẹp và hẻm hóc của thành phố cổ Patan, rắc gạo, tiền xu và bột đỏ lên tất cả các khám thờ tượng, tháp, chùa, đền dọc theo đường đi. Họ đi càng nhanh khi trời đã đến giữa trưa, và quan niệm rằng càng khổ nhọc bao nhiêu thì người thân đã khuất của họ sẽ bớt đau khổ chừng ấy. Họ rắc những đồng xu trên đường đi trong khi gọi tên người thân đã khuất, trong những người khác hát vang những bài ca ngợi ca sự chiến thắng của Đức Phật trước ma vương Mara. Đến quá trưa thì hầu hết mọi người gần như kiệt sức, bột đỏ chảy dài trên thân thể thành những dòng mồ hôi đỏ, bám đầy cả trên tóc, trên quần áo. Nhưng họ vẫn không dừng lại. Một số thanh niên và đàn ông của những gia đình có người thân chết trong vòng một năm qua cởi trần và quỳ lạy trong đất bụi trước mỗi khám thờ dọc đường. Jyapu, cộng đồng nông dân bản địa của Thung Lũng Kathmandu, tin chắc rằng Lễ Đèn là để tưởng niệm người thân đã khuất của họ.




Chúng tôi nghĩ rằng GŪLA chính là từ nguyên của Vu-lan khi phiên âm sang tiếng Trung Quốc. Cũng như Vu-lan bồn là để chỉ cái chậu chứa năm thứ vật thực cúng dường chư Phật hoặc chư tăng, ni trong ngày Pancha Dana.






Một số “bồn” dùng trong mùa Vu-lan của người Newari: GULPA, và GULU dùng đựng các vật thực cúng dường Chư Phật (bình bát bằng đồng)







Bồn KAMALA (trên) và khay SULIN (bên dưới)


Một điều thú vị là từ Kathmandu Valley cho đến Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên thì ở đâu tinh thần kính ngưỡng Chư Phật-Chư Tăng và báo hiếu cũng là trọng tâm của lễ Vu-lan.


                                           Kathmandu-Nepal, Mùa GŪLA – Vu-lan 2010

                                                       NGUYỄN PHÚ
(Bài viết này có tham khảo tư liệu từ tác giả Đồng Thành, Mary Slusser và văn bản cổ của cộng đồng Newar)

PHN 2:  MATA YA - LỄ ĐÈN MÙA VU LAN
CỦA CỘNG ĐỒNG NEWARI



 ****************

 


   Tôi đến Patan vào lúc 4 giờ sáng 26/8/2010. Trời mưa ngâu lất phất.  
   Patan là thành phố cổ nhất của Kathmandu Valley, nơi đây cũng là thành phố có nhiều gia đình theo Phật giáo nhất ở Nepal, nên được mệnh danh là Thành Phố Phật Giáo (gọi là “thành phố” (city) nhưng thực ra diện tích của Patan chỉ xấp xỉ một phường lớn ở Saigon ). Tương truyền, vào thời cổ đại, thành phố này được quy hoạch theo hình Bánh Xe Pháp – Dharma Chakra với 8 cổng ra vào. Lễ đèn Mata Ya được bắt đầu từ MAHABUDDHA TEMPLE. Đây là một ngôi tháp được xây dựng ở trung tâm khu phố cổ theo hình thức là một bản sao thu nhỏ của Tháp Đại Giác ở Bodgaya -Ấn Độ. Tháp được ốp toàn bộ mặt ngoài bằng gạch nung màu đỏ, mỗi viên gạch có chạm hình một vị Phật đủ các kích cỡ, số lượng lên đến hơn vạn hình Phật. Nguồn gốc của Tháp này là do một người hành hương Sakya sau khi chiêm bái Tháp Đại Giác ở Ấn Độ đã phát tâm cúng dường xây dựng từ hơn ngàn năm trước.  





5 giờ sáng cuộc lễ bắt đầu. Một cô gái Sakya với trang phục cổ truyền tay cầm nến, hông đeo một cái túi nhỏ đựng gạo chéo qua vai trái dùng để cúng dường các bảo tháp, bắp chân đeo lục lạc đồng, đi chân trần bắt đầu kinh hành.

  
  



Hậu duệ của người Kirat trong trang phục cổ truyền dự lễ đèn







Tất cả các tháp (Caitya) và các chỗ thờ Phật đều được thắp đèn để mọi người chiêm bái và cúng dường









Đèn trên tay, Phật tử đi kinh hành vòng quanh tất cả các tháp lớn, tháp nhỏ, điện thờ Phật. Cho đến sau bảo tháp thứ 100 thì tôi không thể nhớ nữa, chân mải miết bước theo đoàn người, mắt căng ra trong ánh sáng lờ mờ để quan sát đường đi trơn trượt, gập gềnh và những khung cửa thấp lè tè trên dưới 1,5m. 



Có khi đi xuyên qua cả những ngôi nhà, những hẻm hóc chật hẹp để đến được những Caitya xưa cổ giờ bị nhà cửa xây dựng bao quanh…





Các em hứơng đạo sinh cũng đến tham gia giữ trật tự cho buổi lễ.





Nhịp kinh hành càng lúc càng nhanh…








Ba cô gái Newar tham gia lễ đèn trong trang phục cổ truyền: tóc thắt bím, cổ đeo dây chuyền bạc và xâu chuỗi san hô đỏ, cổ chân đeo kiềng bạc, tay mang KAMALA (bồn đựng vật thực cúng dường). Từ trái qua: Sakya, Jyapu (cư dân cổ của Kathmandu làm nghề nông) và Shrestha (đây là hậu duệ của vương tộc Kolya – bên mẹ của Đức Phật Sakya; họ đã di cư đến Kathmandu cùng với Sakya của Kapilavastu và chuyển đổi họ sang Shrestha nghĩa là Ưu tú)




Nhạc cổ truyền là món không thể thiếu trong bất cứ lễ hội nào của người Newar.



Một số thanh niên hoá trang thành các quỷ ma đói khát của cõi âm chòng ghẹo mọi người làm không khí buổi lễ thêm phần náo nhiệt.


Trời sáng dần và người tham gia càng đông, ken cứng các con đường nhỏ hẹp của khu phố cổ




Vượt qua cả những con đường lầy lội thế này để kinh hành…

    

Một thanh niên Newar thực hành nghi thức lễ bái ở tất cả các tháp lớn nhỏ để cầu phúc cho người mẹ đã khuất. Đến trước mỗi Caitya anh dừng lại chắp tay cầu nguyện và niệm một câu chú, rồi lấy một nhúm gạo từ chiếc túi bên hông rắc lên tháp. Sau đó anh từ từ quỳ xuống lạy bảo tháp, toàn thân áp sát xuống đất bất kể nơi đó thế nào, trán dập vào nền đất lầy bùn. Người phát nguyện lạy bảo tháp trong ngày Lễ Đèn phải không bỏ sót bất kỳ Caitya nào và  càng thành tâm bao nhiêu thì thân nhân của họ càng được trợ duyên bên cõi âm để thoát cảnh địa ngục.



Giấy in lời cầu nguyện cho người đã khuất và hình ảnh của họ được thân nhân đặt lên các các khay trước mỗi Caitya (xưa kia các tờ giấy này viết tay). Người tham gia Lễ Đèn cúng dường cho họ bằng cách rắc gạo, kẹo bánh hoặc tiền xu vào đó.


Thầy Sato, Trụ trì chùa Nhật Bản ở Lumbini cũng tham gia Lễ Đèn

Vòng kinh hành kết thúc ở Tháp Asoka (Tháp Bắc, một trong bốn Tháp Asoka ở Patan). Tôi ước tính một vòng kinh hành người tham gia có dịp chiêm bái hơn 300 chùa, đền và tháp, vượt qua quãng đường chừng 2 cây số trong vòng hai giờ đồng hồ không được dừng chân. Trời mưa ngâu cũngcó mặt tốt là làm cho người tham gia kinh hành không cảm thấy nóng bức. Từ đây Phật tử có thể lập lại không ngừng các vòng kinh hành theo ứơc nguyện (càng nhiều lần càng tốt).



 
   Tôi cũng cầu nguyện cho cha mẹ đã khuất của tôi mỗi khi đến một Caitya; chỉ tiếc mình không có duyên (nghi thức này chỉ dành cho người có người thân vừa mất trong vòng một năm mà thôi) và sức khỏe để thực hành nghi thức bái lạy mỗi Caitya như anh thanh niên hiếu kính Newar nọ. Trời sáng rõ và tôi sực tỉnh khỏi cơn mơ trong đó tôi thấy mình dường như đi ngược thời gian trở về nhiều thế kỷ trước để tham gia vào một buổi lễ cổ kính của Vulan nguyên thủy.




                                         NGUYỄN PHÚ  -MÙA GŪLA 2010 – Patan -Kathmandu